hoc tieng nhat gia re

Phân biệt âm On’yomi và Kun’yomi trong tiếng nhật

Tiếng Nhật thực sự phức tạp và khó học đối với những bạn không có lòng quyết tâm và yêu thích nó, đối với tôi thì tiếng Nhật không có gì là quá khó. Chỉ có điều bạn đã cố gắng đến đâu và có thực sự muốn học nó hay không mà thôi. Một kinh nghiệm của tôi khi bắt đầu học tiếng nhật đó chính là hãy tìm tòi và đọc những chia sẻ của các đàn anh đi trước, họ là những người đã làm quen và học tập tiếng nhật sớm hơn mình thì ắt hẳn họ sẽ tích lũy được những kinh nghiệm và những gì mà họ chia sẻ là rất hữu ích. chính vì vậy hôm nay tôi xin mạn phép chia sẻ với những người đi sau một vài kinh nghiệm về học kanji, học cách phân biệt âm On’yomi và Kun’yomi trong tiếng nhật, hi vọng sẽ giúp được cho các bạn.

Vòng vo một hồi rồi, các bạn chắc cũng muốn tìm hiểu vào nội dung chính rồi phải không nào, chúng ta bắt đầu nhé.

Do cách thức du nhập vào tiếng Nhật, một ký tự kanji có thể được dùng để viết một hoặc nhiều từ (hay hình vị, trong hầu hết các trường hợp) khác nhau. Từ cách nhìn nhận của người đọc, kanji cũng có một hoặc nhiều cách đọc khác nhau. Để quyết định sử dụng cách đọc nào, người ta phải dựa vào văn cảnh, dụng ý, hoàn cảnh phức hợp, thậm chí là vị trí từ kanji đó trong câu. Một số từ kanji thông dụng có từ 10 cách đọc trở lên. Những cách đọc này thường được phân loại thành nhóm on’yomi(hay cách đọc on) hoặc kun’yomi (hay cách đọc kun).

 

On’yomi (Cách đọc kiểu Hán)


On’yomi (音読み âm độc mĩ), cách đọc Hán-Nhật, là sự Nhật hóa cách phát âm tiếng Hán của Hán tự vào thời điểm nó được du nhập vào. Một số ký tự Kanji được du nhập từ các vùng khác nhau của Trung Quốc vào các thời điểm khác nhau, dẫn đến có nhiều on’yomi, và thường có nhiều ý nghĩa. Những kanji được phát minh thêm ở Nhật thường không có on’yomi, nhưng cũng có một số ngoại lệ, chẳng hạn ký tự 働 (động) “làm việc”, có kun’yomi là hataraku và on’yomi là dō, hay ký tự 腺 (tuyến), chỉ có cách đọc on’yomi là sen.

Nhìn chung, on’yomi chia làm 4 kiểu:

Cách đọc Go-on (呉音, “Ngô âm”) có xuất xứ từ cách phát âm trong thời kỳ Nam-Bắc triều ở Trung Quốc hay Bách Tế ở Triều Tiên, vào thế kỷ thứ 5 – 6. “Ngô” ở đây chính là nước Ngô ở Trung Quốc (nằm trên địa hạt nay là thành phố Thượng Hải).
Cách đọc Kan-on (漢音, “Hán âm”) có xuất xứ từ cách phát âm trong thời kỳ nhà Đường vào khoảng thế kỷ thứ 7 – 9, chủ yếu lấy cách phát âm ở kinh đô Trường An(長安,长安) của nhà Đường làm tiêu chuẩn.
Cách đọc Tō-on (唐音, “Đường âm”) có xuất xứ từ cách phát âm của các triều đại sau đó, như nhà Tống (宋) và nhà Minh (明). Đây là cách đọc chủ yếu được du nhập trong các thời kỳ Heian (平安) cho đến Edo (江戸).
Cách đọc Kan’yō-on (慣用音, “Quán dụng âm”) là những cách đọc ra đời do bị biến đổi, nhầm lẫn và được người Nhật chấp nhận trong ngôn ngữ của họ.

Các ví dụ (những cách đọc hiếm dùng nằm trong dấu ngoặc đơn)

On’yomi

On’yomi được dùng chủ yếu trong các từ ghép kanji (熟語 jukugo thục ngữ), một số là kết quả do du nhập cùng với chính những ký tự kanji đó từ các từ các từ tiếng Hán do có thể không tồn tại trong tiếng Nhật hoặc không thể phát âm rõ ràng nếu chỉ sử dụng ngôn ngữ bản địa. Quá trình vay mượn ngôn ngữ này tương tự với quá trình vay mượn các từ tiếng Latin hoặc tiếng Pháp Noóc-măng đối với tiếng Anh, hay vay mượn các từ tiếng Pháp hoặc tiếng Anh đối với tiếng Việt; bởi các thuật ngữ mượn tiếng Hán thường có tính chuyên môn hóa uyên bác, âm tiết kiểu cách hơn so với từ bản địa tương ứng. Ngoại lệ đáng kể nhất trong nguyên tắc này là tên họ, trong đó thường sử dụng cách đọc kun’yomi hơn.

 

Kun’yomi (cách đọc kiểu Nhật)


Cách đọc kiểu Nhật hay cách đọc bản địa, kun’yomi (訓読み huấn độc mĩ), là cách đọc một chữ kanji lấy nghĩa, dựa trên cách phát âm của một từ tương đương tiếng Nhật, tức yamatokotoba. Cách đọc này chuyễn nghĩa của kanji sang một chữ tương xứng nhất trong tiếng Nhật. Giống với on’yomi, mỗi kanji có thể có một hoặc nhiều cách đọc. Có khi kanji đó chỉ có on’yomi mà không có kun’yomi.

Lấy ví dụ, ký tự kanji 東, “phía đông“, có cách đọc on’yomi là tō. Tuy nhiên, tiếng Nhật vốn đã có 2 từ mang nghĩa “phía đông” là: higashi và azuma. Do đó, ký tự 東 có những cách đọc kun là higashi và azuma. Ngược lại, ký tự kanji 寸, “thốn”, biểu thị một đơn vị đo chiều dài trong tiếng Hán (xấp xỉ 3 cm), tiếng Nhật bản địa không có từ nào mang nghĩa tương đương. Do đó, nó chỉ có cách đọc on là sun và không có cách đọc kun nào. Hầu hết các kokuji, tức các ký tự kanji do người Nhật tạo ra thêm, chỉ có các cách đọc kun.

Đặc trưng của kun’yomi được quyết định bởi cấu trúc âm tiết (phụ)-nguyên của yamatokotoba. Hầu hết các kun’yomi của danh từ và tính từ thường có độ dài từ 2 đến 3 âm tiết, không tính các ký tự hiragana đi kèm có tên gọi okurigana. Okurigana không được xem là một phần trong bản chất cách đọc của ký tự, mặc dù chúng là một phần trong cách đọc của toàn bộ từ. Người mới học tiếng Nhật có thể ít khi gặp phải các ký tự có cách đọc dài, nhưng những cách đọc có ba bốn âm tiết hay thậm chí nhiều hơn không hề hiếm. Những ký tự như 承る uketamawaru và 志 kokorozashi có đến 5 âm tiết chỉ để biểu đạt một ký tự kanji, đây là những cách đọc dài nhất trong số các kanji nằm trong bộ Jōyō kanji.

Trong một số trường hợp, nhiều hơn một từ kanji được dùng để biểu diễn một từ tiếng Nhật duy nhất. Điều này thường xảy ra khi những từ kanji khác nhau biểu diễn những sắc thái ý nghĩa khác nhau. Chẳng hạn, từ なおす (naosu) có nghĩa là “sửa”, “chữa”, nhưng khi viết là 治す thì mang nghĩa là “chữa bệnh” (sinh vật sống), còn khi viết là 直す thì mang nghĩa là “sửa chữa cái gì đó” (đồ vật). Đặc điểm phân biệt nhiều khi rất rõ ràng nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Sự khác biệt quan điểm giữa các tài liệu tham khảo không phải là hiếm; một cuốn từ điển có thể nói rằng những từ kanji này là tương đương, trong khi một cuốn từ điển khác lại chỉ ra những điểm khác biết trong cách dùng. Kết quả là, người bản địa cũng có thể không nắm rõ từ kanji nào được dùng, họ dựa vào sở thích cá nhân hoặc đành viết từ đó bằnghiragana. Thói quen này thường gặp đối với những trường hợp phức tạp như từ もと moto, có thể viết bằng ít nhất 5 ký tự kanji: 元, 基, 本, 下 và 素, ba ký tự đầu trong số đó chỉ có rất ít sự khác biệt về sắc thái.

Khi nào dùng cách đọc nào
Mặc dù có nhiều qui tắc khi nào dùng cách đọc on’yomi hay khi nào dùng kun’yomi, trong tiếng Nhật tràn ngập các trường hợp không theo qui tắc, và ngay cả người bản địa không phải lúc nào cũng có thể biết cách đọc của một ký tự nếu không có kiến thức tốt.

Qui tắc vỡ lòng là đối với những kanji độc lập, chẳng hạn một ký tự biểu diễn một từ đơn nhất, thường được đọc bằng cách đọc kun’yomi của chúng. Chúng có thể được viết cùng với okurigana để biểu đạt biến cách kết thúc của động từ hay tính từ, hay do qui ước.

Ví dụ:

情け nasake “sự cảm thông”,
赤い akai “đỏ”, 新しい atarashii“mới”,
見る miru “nhìn”, 必ず kanarazu “nhất định, nhất quyết”.

Okurigana là một khía cạnh quan trọng trong cách dùng kanji trong tiếng Nhật; xem bài viết đó để biết thêm về kun’yomi.

Các từ ghép kanji nhìn chung được đọc bằng on’yomi, trong tiếng Nhật gọi là 熟語 jukugo (thục ngữ).

Ví dụ:

情報 jōhō “thông tin”,
学校 gakkō “trường học”,
新幹線shinkansen “tàu tốc hành” đều tuân theo dạng này.

Sự khác nhau giữa qui tắc đọc kanji độc lập và ghép làm cho nhiều từ có ý nghĩa gần giống nhau nhưng lại có cách đọc hoàn toàn khác nhau. 東 “hướng đông” và 北 “hướng bắc” khi đứng độc lập dùng cách đọc kun tương ứng là higashi và kita, trong khi từ ghép 北東 “hướng đông bắc” lại dùng cách đọc on là hokutō. Điều này còn phức tạp hơn bởi thực tế nhiều kanji có nhiều hơn một cách đọc on’yomi: 生 đọc là sei trong từ 先生 sensei “giáo viên” nhưng lại đọc là shō trong 一生 isshō “cả đời người”. Ý nghĩa cũng cũng có thể là tác nhân đối với cách đọc; 易 đọc là i khi nó mang nghĩa “đơn giản”, những lại thành eki khi nó mang nghĩa “tiên đoán, bói toán”, cả hai cách đọc đều là on’yomi của ký tự này.

Qui tắc vỡ lòng này cũng có rất nhiều ngoại lệ. Số lượng những từ ghép đọc bằng kun’yomi không lớn như on’yomi, nhưng cũng không phải là hiếm. Chẳng hạn như :

手紙 tegami “thư”,
日傘 higasa “cái ô”,
神風 kamikaze “ngọn gió thần thánh”.

Những từ ghép như thế cũng có thể có okurigana, như:

空揚げ (còn được viết là 唐揚げ) ,
karaage “đồ ăn chiên” ,
折り紙 origami “nghệ thuật gấp giấy”, mặc dù nhiều khi chúng được viết bỏ đi okurigana (ví dụ, 空揚 hay 折紙).

Tương tự, một số ký tự on’yomi cũng có thể được dùng như một từ khi đứng độc lập:

愛 ai “tình yêu”,
禅 Zen “thiện”,
点 ten “dấu chấm”.

Hầu hết các trường hợp này liên quan đến những kanji không có kun’yomi, nên có thể không có sự nhầm lẫn, mặc dù vẫn có các ngoại lệ. Ký tự độc lập 金 có thể đọc là kin “tiền, vàng” hoặc cũng có thể là kane “tiền, kim loại”; chỉ có cách dựa vào ngữ cảnh mới biết được cách đọc và ý nghĩa trong dụng ý của người viết.

Nguồn : Đức Nguyễn

( một học viên khóa 4 tại Trung Tâm)



Tin cùng chủ đề

Tin mới

Đào tạo tiếng nhật

Thông tin tuyển sinh

Kỳ thi tiếng nhật

Giáo viên tiêu biểu



Học tiếng nhật giao tiếp trực tuyến giá rẻ